Kỹ thuật xử lý luyến và hoa mỹ khi chơi tác phẩm guitar

Print Friendly, PDF & Email

[a*1]

Kỹ thuật xuất hiện nỗi nhớ và hoa giúp mở rộng nghệ thuật biểu đạt cho tác phẩm, với hai ý nghĩa:

Trước đây, guitar bao hàm rất nhiều yếu tố để múa và phần đệm của vũ công nên chủ yếu sử dụng kỹ thuật gảy đàn để luôn tạo ra âm lượng lớn, đáp ứng vai trò đệm cho múa. Các nốt nhạc nghe không to nhưng mang tính chất biểu cảm âm nhạc nhiều hơn, nên việc sử dụng rộng rãi kỹ thuật này đã phần nào cho thấy nhạc cụ đã bước ra khỏi vai trò đệm để chuyển sang độc tấu.

Nếu thế kỷ XVI, kỹ thuật barre giúp tay trái tăng áp lực, chuyển động của hợp âm dày hơn, giúp người sáng tác mở rộng cách tạo hợp âm, vào thế kỷ XVII, kỹ thuật luyến láy và hoa mỹ khiến tay trái trở nên tinh tế hơn với những phát triển mạnh mẽ, khéo léo. lực ở các đầu ngón tay với nhiệm vụ chính là làm mềm lời bài hát, nâng cao độ đa dạng của âm thanh cho một nốt nhạc.

Ví dụ 1.20:

Thomas Mace (1613-1709), courant, tr.17, 6. [phụ lục trang 171]

Trong ví dụ, các ghi chú tốt và trill làm cho âm nhạc không chỉ nhảy mà giai điệu biểu cảm hơn nhiều, motip được phát triển để tạo sự biểu cảm và phù hợp với các vị trí nhấn trên cần đàn.

Khó khăn kỹ thuật với tốc độ móc và trill được sử dụng trong nhiều công trình.

Điều khiển tay trái được phát triển để hiện thực hóa chính xác hơn ý đồ của tác giả, vững vàng hơn trong việc thể hiện nội dung nghệ thuật thông qua việc gắn chính xác vào tác phẩm và đòi hỏi sự tiến bộ về kỹ thuật. cho nghệ sĩ.

Ví dụ 1.21:

Gaspar Sanz (1640-1710), Matachin, tr.1, 1. [phụ lục trang 172]

Theo ký hiệu của ví dụ trên, người nghệ sĩ có thể biểu diễn bao nhiêu nốt đẹp trong giới hạn nhịp của nốt chính, tùy theo trình độ kỹ thuật cụ thể. Nhưng nếu được trình bày như:

Ví dụ 1.22:

Gaspar Sanz (1640-1710), Pasacalle, tr.1, 1. [phụ lục trang 173]

Tất cả các nghệ sĩ đều phải biểu diễn đủ các nốt, đúng nhịp, không có sự khác biệt về số lượng nốt và tốc độ giữa những người biểu diễn cùng một tác phẩm.

Chạy ngón tốc độ cao xuất hiện, kỹ thuật này được phổ biến và ưa chuộng trong thời gian sau đó.

Kỹ thuật bàn tay trái hiện lên ở những vị trí mới so với những âm phổ biến trước đây, kỹ thuật này là một trong những bước khởi đầu để khai thác mọi vị trí trên bàn phím trong những thế kỷ sau.

Ví dụ 1.23:

Robert de Visee (1660-1725), Suite c-moll, Allemande, trang 4, 2. [phụ lục trang 174]

Âm nhạc của J. Bach đóng một vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của nhạc cụ. Trong các tác phẩm của Johann Sebatian Bach như: Lute suite số 1 BWV 996, gigue; Lute suite số 2 BWV 997, đôi; Lute suite số 4 BWV 1006a, khúc dạo đầu, các điệu múa có chuyển động nhanh, đều, liền mạch từ đầu đến cuối, các đoạn có lúc hòa quyện vào nhau, có lúc nổi lên, biến hóa, phong phú, liên hoàn, mạch nhạc chỉ dừng lại khi bài hát khép lại. Sự chuyển động không ngừng nghỉ này là yếu tố phát triển sự chính xác và dẻo dai của đôi tay để phối hợp thực hiện liên tục các kỹ thuật khác nhau.

Xem thêm về Học guitar tại VTMS

[a*2]
————————
꧁༺Tham khảo༻꧂hocnhacvn.com

You may also like...

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *